đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh
Dạy học theo mô hình lớp học đảo ngược (Flipped Classroom) là một trong những phương pháp hiện đại và đáp ứng được những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học.
Về học vấn, Tân Hoa hậu Huỳnh Nguyễn Mai Phương sở hữu thành tích nổi bật. Thời cấp 3, cô giành giải Nhì học sinh giỏi môn Tiếng Anh cấp tỉnh năm 2016, giải Ba học sinh giỏi môn Tiếng Anh cấp tỉnh năm 2017, đạt IELTS 6.5 từ khi học lớp 11.
Sáng ngày 05/5/2021 tại TTBDCT, Sở GD&ĐT đã tổ chức Hội giảng trực tuyến "Đổi mới phương pháp giảng dạy môn Tin học, Tiếng Anh cấp tiểu học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh" cho tất cả giáo viên Tin học và Tiếng Anh trong tỉnh Vĩnh Long. Tham dự tại điểm cầu chính có Bà Nguyễn
Fahasa Shopee Tiki. Mô tả. Toàn tập Cấu trúc tiếng anh 11 chương trình mới - cũ do Cô Trang Anh biên soạn giúp các em học sinh lớp 11 hệ thống toàn bộ cấu trúc trong từng bài học lớp 11 kèm những bài tập áp dụng giúp các em củng cố, thực hành để từ đó ghi nhớ các cấu
Thầy và trò nhà trường tích cực đổi mới phương pháp dạy và học môn Lịch Sử trong chương trình GDPT 2018. RSS; sở gd-đt hưng yên. Trường THPT Đức Hợp. Dạy học truyền hình: Môn Tiếng anh lớp 12, bài 8. Dạy học trên truyền hình Hưng Yên: Môn Ngữ Văn lớp 12, bài 6. Thư
Site De Rencontre Gratuit Pour Jeunes. NỘI DUNG BỒI DƯỠNG 2 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH THPT THEO HƯỚNG TÍCH CỰC 1 MỤC LỤC TT Nội dung 1 I. Đổi mới chương trình giáo dục THPT 2 1. Về chương trình giáo dục THPT 3 2. Về mục tiêu của giáo dục THPT 3 4 3. Về kế hoạch dạy học 5 4. Về đổi mới phương pháp dạy học 6 II. Đổi mới phương pháp dạy học 7 1. Dạy đọc hiểu 8 Quan điểm chung 9 Cấu tạo bài đọc hiểu 10 Quy trình dạy bài đọc hiểu 11 Một số lưu ý khi dạy kĩ năng đọc hiểu 12 Ví dụ triển khai dạy kĩ năng đọc hiểu 13 2. Dạy kĩ năng nói 14 Mục đích của dạy kĩ năng nói 15 Bản chất của dạy kĩ năng nói 16 Ba giai đoạn trong bài dạy nói 26 3. Dạy kĩ năng nghe 17 19 Các thủ thuật dạy nghe hiểu . Ba gia i đo ạn tro ng mộ t bài dạ y kĩ nă 2 Trang 3 3 4 7 12 12 12 14 16 19 19 22 22 22 23 26 27 ng tiế p nh ận 18 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 4. Dạy kĩ năng viết Dạy viết có kiểm soát Dạy viết có hướng dẫn Dạy viết tự do Chuẩn bị viết Học sinh viết Sau khi viết 5. Dạy kiến thức ngôn ngữ Dạy ngữ âm Dạy từ vựng Dạy ngữ pháp 30 30 31 31 32 33 33 34 34 36 39 Đổi mới giáo dục trung học phổ thông gắn bó chặt chẽ và thực chất là nằm trong khuôn khổ của đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, tuân thủ các định hướng, nguyên tắc chung của công cuộc đổi mới giáo dục. I. Đổi mới chương trình giáo dục trung học phổ thông Đổi mới chương trình giáo dục trung học phổ thông THPT trong quá trình triển khai đã quán triệt các định hướng, các nguyên tắc chung nhất đối với các cấp học khác đồng thời chú trọng những đặc điểm riêng của cấp học này. 1. Về chương trình giáo dục trung học phổ thông 3 Chương trình cấp trung học phổ thông quy định mục tiêu, kế hoạch giáo dục của cấp học với các giải thích cần thiết; các định hướng về phương pháp tổ chức giáo dục, đánh giá kết quả giáo dục, sự phát triển logic của các nội dung kiến thức ở từng môn học, lớp học. Chương trình cấp trung học phổ thông còn đề cập tới những yêu cầu tối thiểu về kiến thức, kĩ năng và thái độ trên các lĩnh vực học tập mà học sinh cần và có thể đạt được sau khi hoàn thành cấp học. 2. Về mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông Văn bản chương trình giáo dục cấp trung học phổ thông đã trình bày mục tiêu cấp học theo Luật Giáo dục quy định “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông, có những hiểu biết thông thường về kĩ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động.” Điều 27, mục 2, chương II, Luật Giáo dục- 2005 Căn cứ vào mục tiêu chung được luật định, mục tiêu cụ thể của cấp THPT được xây dựng, thể hiện qua yêu cầu học sinh học xong cấp THPT phải đạt được ở các mặt giáo dục tư tưởng, đạo đức lối sống; học vấn kiến thức phổ thông, hiểu biết kĩ thuật và hướng nghiệp; kĩ năng học tập và vận dụng kiến thức; về thể chất và xúc cảm thẩm mĩ. Cụ thể nội dung của mục tiêu cụ thể của giáo dục THPT có một số điểm mới cần được lưu ý như sau + Sống lành mạnh, tự tin, tự tôn dân tộc, có chí lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn; + Có khả năng sử dụng một ngoại ngữ trong giao tiếp thông thường, có khả năng ứng dụng một số thành tựu của công nghệ thông tin ở trình độ phổ thông trong giải quyết công việc; 4 + Phát triển và nâng cao các kĩ năng học tập chung, kĩ năng vận dụng kiến thức vào các tình huống học tập mới, vào thực tiễn sản xuất và cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng. 3. Về kế hoạch dạy học Kế hoạch giáo dục là văn bản qui định thành phần các môn học trong nhà trường, trình tự dạy học các môn trong từng năm, từng lớp, số giờ dành cho từng môn học trong cả năm, trong từng tuần, cấu trúc và thời gian của năm học. Kế hoạch giáo dục của trường trung học phổ thông Số Môn học và th hoạt động ứ Lớp 10 KH KH Cơ Lớp 11 KH KH Cơ Lớp 12 KH KH Cơ TN TN TN XH- bản NV tự XH- bản NV XH bản N V 1 3 4 3 3,5 4 3,5 3 4 3 Toán Giáo dục công 4 1 3 1 3 1 4 1 3,5 1 3,5 1 4 1 3,5 1 3,5 1 2,5 2,5 1,5 1,5 1,5 2 2 3 2 2 1 1,5 2 2 2 4 2 2 1 1,5 1,5 2 2 3 2,5 2,5 1,5 1 1 2 2 3 2 2 1,5 2 1,5 2 2 4 2 2 1,5 1 1 2 2 3 3 2,5 2 1,5 1,5 1 2 3 2 2 1,5 2 2 1 2 4 2 2 1,5 1,5 1,5 1 2 3 Ngữ văn 2 3 dân 4 Vật lí 5 Hoá học 6 Sinh học 7 Lịch sử 8 Địa lí 9 Công nghệ 10 Thể dục 11 Tiếng nước ngoài 5 12 Tin học 13 Giáo dục quốc 2 2 2 1,5 1,5 2 1,5 2 4 2 1 2 1,5 1,5 35 tiết/năm 1,5 1,5 1,5 phòng và an ninh 14 Tự chọn 15 Hoạt động tập 1 2 thể 16 Hoạt động giáo 4 2 1,5 2 1,5 2 4 2 4 tiết/tháng dục ngoài giờ lên lớp 17 Giáo dục hướng nghiệp 18 Giáo dục nghề phổ thông Tổng số tiết/tuần Ghi chú 3 tiết/tháng Không học 30 30 3 tiết/tuần 30 28,5 30 Không học 30 29,5 30 - Kí hiệu KHTN có nghĩa là ban Khoa học tự nhiên, KHXH&NV là ban Khoa học xã hội và nhân văn. - Các số trong mỗi ô là số tiết trong một tuần của môn học hoặc hoạt động giáo dục tương ứng. Chương trình các môn học của trung học phổ thông gồm chương trình chuẩn của tất cả các môn học thể hiện những yêu cầu mang tính tối thiểu mọi học sinh cần và có thể đạt; chương trình nâng cao đối với 8 môn phân hoá Toán, Lí, Hoá, Sinh, Ngữ văn, Sử, Địa và Tiếng nước ngoài. Trong chương trình của từng môn, mục tiêu môn học được thiết kế nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của cả cấp học. Chương trình giới thiệu quan điểm chính của việc xây dựng lại chương trình môn học; trình bày chuẩn kiến thức kĩ năng môn học theo từng lớp và những gợi ý cần thiết về phương pháp, phương tiện dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn học của học sinh. 6 29,5 - Chương trình tự chọn Ngoài ra còn có hệ thống các chủ đề tự chọn cung cấp cho học sinh những cơ hội để củng cố, luyện tập kiến thức, kĩ năng có trong chương trình các môn học hoặc mở rộng, nâng cao đáp ứng nhu cầu của học sinh. Căn cứ vào vị trí, nhiệm vụ và đặc điểm của trường trung học phổ thông phân ban, quá trình xây dựng lại chương trình phải đảm bảo được các nguyên tắc chung đổi mới chương trình, đồng thời phải đảm bảo yêu cầu sau - Xuất phát từ mục tiêu đào tạo của cấp học - Đảm bảo tính hệ thống, chỉnh thể và yêu cầu kế thừa trong việ hoàn thiện, phát triển nội dung học vấn phổ thông - Tiếp tục đảm bảo yêu cầu cơ bản, hiện đại, sát với thực tiễn Việt Nam - Đảm bảo tính sư phạm và yêu cầu phân hoá - Góp phần đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học - Tiếp tục coi trọng vai trò của phương tiện dạy học - Đổi mới đánh giá kết quả quá trình học tập - Chú ý tới các vấn đề của địa phương 4. Về đổi mới phương pháp dạy học Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học. Chỉ có đổi mới căn bản phương pháp dạy và học chúng ta mới có thể tạo được sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo lớp người năng động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức. - Định hướng đổi mới phương pháp dạy học Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII 1-1993, Nghị quyết Trung ương 2 khoá VIII 7 12-1996, được thể chế hoá trong Luật Giáo dục 2005, được cụ thể hoá trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt chỉ thị số 14 4-1999. Luật Giáo dục, điều đã ghi “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hướng tới hoạt động học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. - Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực + Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học sinh Trong phương pháp tổ chức, người học - đối tượng của hoạt động “dạy”, đồng thời là chủ thể của hoạt động “học” - được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình chưa rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên sắp đặt. + Dạy và học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học Phương pháp tích cực xem việc rèn luyện phương pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học. Trong các phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội. Vì vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn đề phát triển tự học ngay 8 trong trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của giáo viên. + Tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, tư duy của học sinh không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phương pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hoá về cường độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kế thành một chuỗi công tác độc. Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hoá này càng lớn. Việc sử dụng các phương tiện công nghệ thông tin trong nhà trường sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hoá hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh. + Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy. Có thể so sánh đặc trưng của dạy học cổ truyền và dạy học mới như sau Quan Dạy học cổ truyền Các mô hình dạy học mới Học là quá trình tiếp thu Học là quá trình kiến tạo; học sinh niệm và lĩnh hội, qua đó hình tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện thành kiến thức, kĩ năng, tập, khai thác và xử lí thông tin, … tư tởng, tình cảm. Bản chất Truyền thụ tri tự hình thành hiểu biết, năng lực và phẩm chất. thức, Tổ chức hoạt động nhận thức cho truyền thụ và chứng minh học sinh. Dạy học sinh cách tìm ra chân lí của giáo viên. chân lí. Mục tiêu Chú trọng hình thành các Chú năng lực sáng tạo, hợp trọng tác, … dạy phương cung pháp và kĩ thuật lao 9 cấp tri động khoa học, dạy cách thức, kĩ học. Học để đáp ứng năng, kĩ những yêu cầu của cuộc xảo. Học sống hiện tại và tương để đối lai. Những điều đã học phó với cần thiết, bổ ích cho bản thi cử. thân học sinh và cho sự Sau khi phát triển xã hội. thi xong những điều đã học th- ường bị bỏ quên hoặc ít dùng đến. Nội dung Từ sách giáo khoa + giáo Từ nhiều nguồn khác nhau SGK, viên GV, các tài liệu khoa học phù hợp, thí nghiệm, bảo tàng, thực tế … gắn với - Vốn hiểu biết, kinh nghiệm và nhu cầu của HS. - Tình huống thực tế, bồi cảnh và môi trường địa phương. Phương - Những vấn đề học sinh quan tâm. Các phương pháp diễn Các phương pháp tìm tòi, điều tra, 10 pháp giảng, truyền thụ kiến giải quyết vấn đề; dạy học tương Hình thức một chiều. tác. Cố định Giới hạn trong Cơ động, linh hoạt Học ở lớp, ở thức tổ 4 bức tường của lớp học, phòng thí nghiệm, ở hiện trường, chức giáo viên đối diện với cả trong thực tế …, học cá nhân, học lớp. đôi bạn, học theo nhóm, cả lớp đối diện với giáo viên -Những phương pháp dạy học tích cực cần đư ợc phát triển ở trường THPT Đổi mới phương pháp dạy học cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của hệ thống phương pháp dạy học đã quen thuộc, đồng thời cần học hỏi, vận dụng một số phương pháp dạy học mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta để giáo dục từng bước tiến lên vững chắc. Theo hướng nói trên, nên quan tâm phát triển một số phương pháp dưới đây. + Vấn đáp tìm tòi Vấn đáp đàm thoại là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc có thể tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học. Có ba phương pháp mức độ vấn đáp vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi. + Dạy và học phát hiện và giải quyết vấn đề Trong một xã hội đang phát triển nhanh theo cơ chế thị trường, cạnh tranh gay gắt, thì phát hiện sớm và giải quyết hợp lí những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực bảo đảm sự thành đạt trong cuộc sống. Vì vậy, tập dượt cho học sinh biết phát hiện, đặt ra và giải quyết những vấn đề gặp phải trong học tập, trong cuộc sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng không chỉ có ý nghĩa ở tầm phương pháp dạy học mà phải được đặt như một mục tiêu 11 giáo dục và đào tạo. Trong dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, học sinh vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phơng pháp chiếm lĩnh tri thức đó, phát triển tư duy tích cực sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lí các vấn đề nảy sinh. Dạy và học phát hiện, giải quyết vấn đề không chỉ giới hạn ở phạm trù phương pháp dạy học, nó đòi hỏi cải tạo nội dung, đổi mới cách tổ chức quá trình dạy học trong mối quan hệ thống nhất với phương pháp dạy học. + Dạy và học hợp tác trong nhóm nhỏ Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ là mới với đa số giáo viên. ở những trường từng tham gia các dự án giáo dục dân số, giáo dục môi trường, phòng chống HIV/AIDS, lạm dụng ma tuý, giáo viên đã được làm quen với phương pháp này do các chuyên gia quốc tế hướng dẫn. Phương pháp dạy học hợp tác giúp các thành viên trong nhóm chia sẻ các băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới. Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có thể nhận rõ trình độ hiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì. Bài học trở thành quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải chỉ là sự tiếp nhận thụ động từ giáo viên. Thành công của bài học phụ thuộc vào sự nhiệt tình tham gia của mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn được gọi là phương pháp cùng tham gia, nó như một phương pháp trung gian giữa sự làm việc độc lập của từng học sinh với sự việc chung của cả lớp. Trong hoạt động nhóm, tư duy tích cực của học sinh phải được phát huy và ý quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động. Cần tránh khuynh hướng hình thức và đề phòng lạm dụng, cho rằng tổ chức hoạt động nhóm, là dấu hiệu tiêu biểu nhất của đổi mới phương pháp dạy học, hoạt động nhóm càng nhiều thì chứng tỏ phương pháp dạy học càng đổi mới. 12 + Dạy học theo dự án Khái niệm dự án được sử dụng phổ biến trong thực tiễn sản xuất, kinh tế- xã hội, đặc trưng của nó về cơ bản là tính không lặp lại của các điều kiện thực hiện dự án. Khái niệm dự án ngày nay được hiểu là một dự định, một kế hoạch, trong đó cần xác định rõ mục tiêu, thời gian, phương tiện tài chính, điều kiện vật chất, nhân lực và cần đợc thực hiện nhằm đạt mục tiêu đề ra. Dự án được thực hiện trong những điều kiện xác định và có tính phức hợp, liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau, có thể cần sự tham gia của giáo viên nhiều môn học. Dạy học theo dự án là một hình thức dạy học, trong đó học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả. Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án là những sản phẩm có thể giới thiệu được như các bài viết, tập tranh ảnh sưu tầm, chương trình hành động cụ thể,..... Những phương pháp gợi ý trên đây là chung cho nhiều môn học ở trường phổ thông. Tuỳ từng môn học có thể vận dụng một số phương pháp đặc thù khác. II. Đổi mới phương pháp dạy học 1. Dạy đọc hiểu Quan điểm chung Đọc hiểu là một trong những kĩ năng được quan tâm trong SGK. Tầm quan trọng của đọc được thể hiện ở chỗ nó được thiết kế như là điểm xuất phát của mỗi đơn vị bài học và được xếp ở tiết đầu tiên của mỗi đơn vị bài học A. READING. Nội dung bài đọc thường thể hiện chủ đề chính của đơn vị bài học ấy. 13 Các bài đọc trong SGK cố gắng khai thác hợp lí và triệt để hệ thống phương pháp dạy học ngoại ngữ tiên tiến thể hiện qua quan điểm lấy nhiệm vụ giao tiếp làm nền tảng. Mỗi bài đọc là một nhiệm vụ giao tiếp lớn task và được dạy trong một tiết trên lớp. Mỗi nhiệm vụ giao tiếp lớn được chia thành nhiều nhiệm vụ giao tiếp nhỏ sub-task và được thể hiện qua các bài tập của bài đọc. Các bài đọc trong SGK được biên soạn thông qua ba giai đoạn dạy học cơ bản The 3-stage process. Có hai cách thể hiện quan điểm dạy học theo quy trình ba giai đoạn Pre-task introduction to topic and task Through- task language analyisis and task Post-task application Pre-task introduction to topic and task Task cycle task and planning report Language focus analysis and practice Quan điểm dạy đọc hiểu vừa nêu ở trên được thể hiện trong SGK qua các tiêu đề Before you read While you read After you read Tuỳ từng điều kiện và hoàn cảnh dạy học đối tượng học sinh, độ khó hay dễ của bài đọc hoặc sở thích của giáo viên, GV có thể áp dụng các cách dạy nhằm đạt hiệu quả dạy học cao. Cấu tạo bài đọc hiểu Cấu tạo của các bài đọc hiểu trong SGK 10 là 14 Unit While you Before you read After you read read 15 1. Answer 1. Multiple choice Summary A day in the the sentences life of ... questions 2. Answer the questions 2. 3. Make a brief note Discussion 1. Find the meaning of Discussion School talks words in sentences 2. Find out who do what 3. Answer 3. Answer the questions 1. Match the words with Summary People’s the their meanings passage background questions 2. Decide T/F statements the words 4. 3. Answer the questions Discussion 1. Find the meaning of 3. using Scan Special words in sentences education 2. 5. Answer sentences passage 1. Complete the sentences Discuss Technology the using the words provided and you questions 2. the passage the & Multiple-choice complete the the question Multiple-choice sentences 3. Arrange the sequence of event Discussion 1. 6. Multiple-choice Fill in An excursion sentences 7. 2. Answer the questions the passage 1. Match the words with Discussion The media Answer mass the questions missing words in their meanings 2. Multiple-choice sentences 16 the 8. Answer 3. Answer the questions 1. Find the meaning of Discussion The story of the words my village 2. Read the passage and questions complete the table 3. Answer the questions Discussion 1. Complete the sentences Fill 9. in the Undersea using the words provided missing words in world 10. Answer 2. Answer the questions 1. Word definition the passage Answer Conservation the 2. Decide T/F statements questions 3. Choose the main idea 1. Word definition Discussion 11. questions National Answer parks the 2. Answer the questions 12. questions Descriptio 1. Complete the sentences Answer Music n using the words provided questions Answer 2. Answer the questions 1. Word definition Discussion 13. Film cinema and the questions 2. Answer the questions 3. Decide the title of the 14. The world Answer passage 1. Match the words with Summary cup the their meanings questions 2 Scan the text and complete the sentences. 15. Answer Cities the 3. Decide T/F statements Discussion 17 the the questions 1. Word definition 2. Decide T/F statements 3. Answer the 16. questions Answer 1. Find the meaning of Answer Historical the words places questions 2. Decide T/F statements the questions Qui trình dạy đọc hiểu Before you read * Mục đích Mục đích của các bài tập này là Gây hứng thú, thu hút HS vào bài đọc; Chuẩn bị hoặc trang bị một số hiểu biết, kinh nghiệm của HS có liên quan đến nội dung của bài đọc; Giải quyết các khó khăn về ngôn ngữ hoặc kiến thức văn hoá, đất nước học; Giúp HS đoán trước các thông tin có liên quan đến nội dung bài đọc sau đó. * Cách thức thực hiện 18 GV yêu cầu HS làm việc theo nhóm hoặc cặp nói về các tranh và thảo luận sử dụng các câu hỏi gợi ý trong SGK. Sau đó GV yêu cầu đại diện các nhóm/cặp phát biểu quan điểm của nhóm/cặp trước lớp, các nhóm/cặp khác nghe và cho ý kiến nhận xét. GV có thể đặt thêm các câu hỏi, gợi có ý liên quan đến chủ đề của bài đọc để giúp HS có thêm các thông tin hoặc hiểu sâu thêm chủ đề của bài đọc. GV cũng có thể yêu cầu HS tham gia các hoạt động như động não, thảo luận, đố vui gắn với nội dung bài đọc. Các câu trả lời của HS có thể không đúng với nội dung bài đọc, điều đó không quan trọng vì mục đích chính của hoạt động này là gây hứng thú, cung cấp thông tin, những hiểu biết và kinh nghiệm có liên quan đến nội dung bài đọc sau đó. Tìm từ, cấu trúc khó, mới liên quan đến bài đọc. HS có thể tìm 5-7 từ mới liên quan đến bài đọc, sau đó các em thảo luận để tìm nghĩa qua tra cứu từ điển, hoặc hiểu từ trong văn cảnh hoặc GV giải thích, … * Thời gian tiến hành từ 5-7 phút While you read Bài đọc hiểu trong SGK thường có độ dài khoảng 190-230 đơn vị từ vựng, được phân thành các đoạn ngắn và được viết bằng văn phong ngắn gọn, trong sáng, dễ hiểu cho đối tượng học sinh phổ thông. * Mục đích Mỗi loại bài tập sau bài đọc có mục đính khác nhau Bài tập 1 giúp SH hiểu nghĩa các từ/cụm từ có trong bài Bài tập 2 giúp HS hiểu sâu nội dung bài đọc Bài tập 3 giúp HS hiểu bao quát nội dung bài đọc 19 * Cách thức tiến hành Với loại bài tập thứ nhất GV yêu cầu HS làm việc theo cá nhân, cặp hoặc nhóm, đọc đoạn văn lần thứ nhất tập trung vào việc tìm kiếm từ, cụm từ, thông tin cụ thể và đoán nghiã của từ/cụm từ trong ngôn cảnh theo yêu cầu của từng bài tập cụ thể. Với loại bài tập thứ hai HS đọc sâu và đọc kĩ đoạn văn theo cá nhân lần thứ hai hiểu sâu và hiểu chi tiết văn bản, sau đó thảo luận trong nhóm hoặc cặp theo yêu cầu của các bài tập trong SGK. Với loại bài tập thứ ba HS đọc quýet theo cá nhân đoạn văn lần thứ ba tìm ý chính của cả bài hay mỗi đoạn theo cá nhân đoạn văn lần thứ ba, sau đó thảo luận trong nhóm hoặc cặp theo yêu cầu của các bài tập trong SGK. * Thời gian tiến hành từ 20-25 phút After you read * Mục đích Giúp HS tóm tắt lại bài đọc, củng cố lại kiến thức ngôn ngữ đã học và phát triển kĩ năng đọc hiểu thông qua việc liên hệ những điều đã học với cuộc sống thực tế. * Cách thức tiến hành Kể tóm tắt ý chính của bài trong nhóm/cặp. Khi kể lại, HS sử dụng các thông tin đã thảo luận qua các bài tập đã làm trước đó. HS thảo luận, đóng vai trong nhóm nhằm so sánh, đối chiếu những điều đã học với thực tế cuộc sống, bày tỏ quan điểm hoặc phê phán những điều đã đọc được. Viết tóm tắt nội dung chính đoạn văn, so sánh, đối chiếu hoặc bầy tỏ quan điểm của mình về nội dung bài đọc. 20
Ngày đăng 22/10/2013, 1111 PHÒNG GD&ĐT GIO LINH TRƯỜNG THCS TRUNG GIANG Đổi mới phương pháp dạy học dạy học GV HỒ THỊ MINH SANG Tổ Năng khiếu Năm học 2010- 2011 I. TÊN ĐỀ TÀI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌCC TRONG VIỆC PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU, KÉM CỦA BỘ MÔN TIẾNG ANH II. ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Việc nâng cao chất lượng đối với bộ môn tiếng Anh tại các trường học, nhất là trường ở vùng nông thôn là một vấn đề quan trọng và cần thiết. Bởi do điều kiện sinh sống, ngoài một buổi đến trường, các em còn phải lao động phụ giúp gia đình, không có thời gian đầu tư cho bất kỳ môn học nào, nhất là bộ môn tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ. Cha mẹ các em thường không có thời gian, không đủ trình độ để kèm cặp thêm ở nhà. Đó là những nguyên nhân đã khiến tôi chọn đề tài “Nâng cao chất lượng học sinh yếu kém Cho bộ môn tiếng Anh” * Một tiết học Tiếng Anh thật là nặng nề đối với các em . Cùng với sự đổi mới của chương trình và sự thiếu ý thức tự giác, độc lập, Tiếng Anh đến với các em thật không dể dàng , vì đây là lần đầu tiên các em tiếp xúc với bộ môn này. Thêm vào đó là sự thiếu quan tâm của các bậc phụ huynh và thiếu thời gian học tập, điều kiện học tập ở nhà. Phần lớn các em là con nhà nông, ngoài thời gian ở trên lớp, các em còn phải giúp bố mẹ trong công việc gia đình. Có nhiều em còn phải giúp bố mẹ với nhiều công việc nặng nhọc, cho n ên ảnh hưởng đến việc học ở nhà. Đa số gia đình các em còn khó khăn, nên việc tạo điều kiện cho các em một góc học tập đầy đủ thật khó. Ngoài ra một số các em chưa có ý thức tốt trong việc học. Coi việc học là đối phó với việc lấy điểm, lên lớp. Tất cả những yếu tố đó đã làm giảm đi khả năng tư duy, sáng tạo của các em. Nói như vậy không có nghiã rằng những học sinh bắt đầu học T iếng Anh không thể học được Tiếng Anh dể dàng như tiếng mẹ đẻ. Với vai trò là người dìu dắt, hướng dẫn bước đầu, bản thân giáo viên bộ môn phải tìm ra giải pháp tốt nhất để thầy và trò cùng đạt kết quả tốt trong môn học này. III. CƠ SỞ LÝ LUẬN - Tìm biện pháp “Nâng cao chất lượng học tập của học sinh yếu kém môn tiếng Anh” là một vấn đề nan giải, rất cần thiết đối với đa số giáo viên bộ môn nói chung, đặc biệt là bộ môn tiếng Anh nói riêng. Vấn đề này đã được giáo viên trong tổ thảo luận nhưng chưa tìm được biện pháp hữu hiệu nhất. Vì thế, là một giáo viên đang trực tiếp giảng dạy bộ môn tiếng Anh, qua nhiều năm thực hiện tôi đã đúc kết được một số kinh nghiệm trong việc dạy phụ đạo học sinh yếu kém có hiệu quả. IV. CƠ SỞ THỰC TIỄN - Trường THCS Trung Giang là một trường thuộc vùng ven biển của huyện Gio linh , là một trong những xã có nhiều hộ nghèo nhất trong huyện nên học sinh còn nhiều vất vả, phải phụ giúp cha mẹ hàng ngày ngoài giờ học, trong khi cha mẹ không hiểu biết về bộ môn tiếng Anh. Phần lớn các em là học sinh nghèo, còn lam lũ, nhiều em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, không người quan tâm, kèm cặp ở nhà. Qua thực tế ở trường, cụ thể là những bài kiểm tra định kỳ 15 phút, 1 tiết, các bài thi do Phòng giáo dục, Sở giáo dục ra đề chất lượng bộ môn tiếng Anh chưa cao. Trong khi một số em khá giỏi rất hứng thú với phương pháp học tiếng Anh mới này thì một bộ phận những em yếu kém vẫn còn nhiều bỡ ngỡ, lúng túng nên dễ dẫn đến việc các em trốn học, nghỉ học, hay chán nản không muốn học bộ môn này. Những học sinh yếu kém khi tiếp xúc với hình thức đề kiểm tra hoặc đề thi, các em thường không biết nội dung yêu cầu của đề bài. Ví dụ như chuyển câu sang thể phủ định hoặc nghi vấn; chia động từ trong ngoặc; đặt câu hỏi cho từ gạch dưới hoặc từ trong ngoặc. Với dạng bài tập đặt câu hỏi, đa số học sinh yếu kém không biết cách làm bài, các em thường làm sai, hoặc bỏ trống, không ghi gì cả…. Do đó làm cho tinh thần công tác của giáo viên sa sút vì số học sinh yếu kém bộ môn còn nhiều, một số giáo viên dạy tiếng Anh còn hạn chế về mặt thi đua cuối năm do chất lượng bộ môn chưa đạt với mặt bằng đề ra. - Trước tình hình trên đòi hỏi người giáo viên phải suy nghĩ bằng nhiều cách để nâng cao chất lượng bộ môn ngày một cao hơn. V. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU - Bao gồm cả công tác tư tưởng và tổ chức quản lý lớp. Cả hai biện pháp này không thể tách rời mà cần được sắp xếp đan chéo nhau, được phối hợp hài hoà có chủ định vì công tác tư tưởng là biện pháp hàng đầu, còn biện pháp tổ chức quản lý là nhân tố quyết định. 1. CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG Như trên đã nói, đây là biện pháp hàng đầu để hỗ trợ cho biện pháp quyết định là tổ chức và quản lý học sinh. Thế nên trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh yếu kém môn tiếng Anh đã coi trọng công tác tư tưởng bằng các việc làm sau a. Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình Học sinh ở trường THCS Trung Giang yếu kém môn tiếng Anh có nhiều hoàn cảnh đặc biệt, nhiều em mồ côi, cha mẹ ly hôn, các em phải sang ở với ông bà , cô dì….Một số ít là con được nuông chìu, được cha mẹ bao che các lỗi lầm. Các em có những đặc điểm tâm lý riêng, thế nên tôi thường thăm dò hoàn cảnh gia đình của các em qua sơ yếu lý lịch, bạn bè gần nhà, giáo viên chủ nhiệm và tìm ra biện pháp giáo dục thích hợp nhằm đạt hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượng học tập của các em. b. Duy trì sỉ số Đi học đầy đủ là điều kiện tất yếu để học sinh học tốt. Cần quan tâm đến việc vắng mặt của học sinh trong lớp, vì phần lớn những học sinh trốn tiết, bỏ tiết là những em học yếu, chán học, sẽ có nguy cơ nghỉ học luôn. Những trường hợp như thế, giáo viên bộ môn cần thông báo kịp thời cho giáo viên chủ nhiệm để báo cho phụ huynh học sinh ngay, nhằm giúp các em chấn chỉnh lại, đưa các em trở lại lớp học. c. Xây dựng tốt mối quan hệ Thầy trò Học sinh yếu kém thường mang nhiều mặc cảm. Các em có hai mặt tâm lý đối nghịch nhau một số em quậy phá, nghịch ngợm, trốn học , bỏ tiết và một số em rút vào cái vỏ của mình qua những biểu hiện như nhút nhát, không phát biểu, xa lánh bạn bè, thầy cô. Biện pháp cần đặt ra ở đây là giáo viên phải thường xuyên quan tâm đến các em, gần gũi , trò chuyện, nâng đỡ các em, đôi lúc cũng phải cứng rắn quở phạt các em. Học sinh yếu thường phạm nhiều khuyết điểm kéo dài cả về học tập lẫn đạo đức, chúng ta không thành kiến với các em, không vội vàng cho điểm xấu mà phải tìm cách giúp đỡ để các em vượt qua khó khăn, ham thích học tập hơn. d. Nêu tấm gương sáng Chọn những em tiêu biểu nêu gương, mẫu cho các em noi theo. Khen thưởng những em yếu kém có tiến bộ dù chỉ 0,25 điểm nhằm khích lệ, động viên tinh thần của các em. e. Tìm hiểu, đóng góp ý kiến với cha mẹ học sinh Nhà trường và gia đình là cầu nối quan trọng trong việc học tập của các em. Cha mẹ phải thực sự là một “giáo viên” ở nhà, nhắc nhở các em chuẩn bị bài, học bài và hướng dẫn làm bài tập nếu được. Cha mẹ phải quan tâm đến con cái, phải sống lành mạnh cả về thể chất lẫn tinh thần. Giáo viên bộ môn ít có dịp gặp trực tiếp cha mẹ học sinh. Do đó, chúng ta phải kịp thời báo những vi phạm của học sinh mình qua giáo viên chủ nhiệm để nhờ họ liên hệ phụ huynh, nếu cần có thể gặp gỡ họ trực tiếp để trao đổi một số vấn đề có liên quan. f. Tinh thần, trách nhiệm của người thầy Cũng như cha mẹ học sinh, người thầy cũng phải gương mẫu, là tấm gương cho học sinh noi theo. Người thầy phải có tinh thần trách nhiệm cao, không thành kiến bỏ rơi một học sinh nào. Luôn tìm tòi học hỏi không ngừng để cải tiến phương pháp, dùng nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau sao cho phù hợp với từng đối tượng học sinh. 2. CÔNG TÁC TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỌC SINH YẾU KÉM a. Đánh giá chất lượng học tập của học sinh Nhằm đánh giá đúng mức độ học tập của học sinh, vào đầu năm học nhà trường thường tổ chức kiểm tra chất lượng đầu năm . Từ đó , giáo viên bộ môn có thể phân học sinh ra làm 5 nhóm giỏi - khá - trung bình - yếu- kém. Từ đó , giáo viên bộ môn lập danh sách theo dõi học sinh yếu kém , quan sát hàng ngày , ghi nhận kết quả qua từng kỳ kiểm tra. Muốn theo dõi chất lượng học tập của học sinh yếu kém một cách chính xác, giáo viên phải thực sự nghiêm túc trong việc coi và chấm trả. Việc làm này có đúng đắn, chúng ta mới nắm được các mặt tồn tại của học sinh để kịp thời phụ đạo bổ sung. Mỗi giáo viên bộ môn đều có trong tay sổ “ Theo dõi sự tiến bộ của học sinh”. STT Họ và tên Kết quả Đầu HKI Giữa HKI Cuối HKI Giữa HKII CuốiHKII b. Phụ đạo học sinh yếu kém Đây là một công tác cần phải có đối với những học sinh yếu kém. Ngay từ bài khảo sát chất lượng đầu năm và căn cứ vào tình hình học tập ở lớp dưới, giáo viên bộ môn có thể lập danh sách những em dưới trung bình để có thể cho vào lớp phụ đạo. Một học sinh yếu kém có tiến bộ hay không là nhờ vào sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba môi trường nhà trường – gia đình – xã hội. Dựa vào danh sách học sinh yếu kém của từng lớp, Ban Giám Hiệu nhà trường tổ chức một buổi họp mặt phụ huynh của những em yếu kém đó nhằm thông báo cho phụ huynh về việc học tập của con em mình. Qua đó đa số phụ huynh đều đồng tình với việc phụ đạo cho con em họ. Nhờ có sự tổ chức quản lý của Ban Giám Hiệu nhà trường, việc dạy phụ đạo cho học sinh yếu kém một phần nào đó cũng góp phần nâng cao chất lượng học tập. Trong quá trình dạy phụ đạo, tôi thường phân chia các em yếu ra từng nhóm khác nhau yếu về từ vựng hay yếu về ngữ pháp. Ở nhóm yếu về từ vựng, đa số các em không biết cách học từ vựng, không biết từ loại của từ, học mà không nhớ rõ nghĩa, hoặc nhớ nghĩa mà không thuộc từ. Đối với học sinh nhóm này, tôi yêu cầu các em mỗi ngày học ba từ vựng. Vào 15 phút đầu giờ, tôi nhờ cán sự bộ môn và một số em học giỏi trong lớp đi kiểm tra những em yếu từ vựng này và báo kết quả lại cho tôi. Đến ngày học phụ đạo lần sau, tôi sẽ kiểm tra tất cả từ vựng mà tôi đã yêu cầu các em học trong một tuần. Làm được như thế, đối với một em chịu học từ vựng một cách nghiêm túc thì chẳng bao lâu lượng từ vựng trong trí nhớ của các em sẽ được nâng lên rất nhiều. Riêng các em yếu về ngữ pháp, tôi sẽ phụ đạo cho các em theo từng loại hình bài tập khác nhau chia động từ trong ngoặc, chuyển câu sang thể phủ định hoặc nghi vấn, đặt câu hỏi với từ gạch dưới hoặc từ trong ngoặc… Trước khi đưa ra dạng bài tập nào đó, tôi thường dành 15 phút đầu giờ để nhắc lại những kiến thức cơ bản về phần ngữ pháp đó. Chẳng hạn, hôm nay tôi muốn yêu cầu học sinh làm bài tập chia động từ ở thì quá khứ đơn, trước khi đưa lên bảng một số câu cụ thể, tôi nhắc lại phần lý thuyết cơ bản. *Thì quá khứ đơn The Simple Past Tense Công thức Cách dùng Để diễn tả một hành động hay một sự việc đã xảy ra tại một thời điểm xác định ở quá khứ và chấm dứt trong quá khứ, thường đi kèm với các trạng từ sau last…, …ago, yesterday, before, in 2009… Chú ý Nếu động từ có qui tắc -> ta thêm –ED Nếu động từ bất qui tắc -> ta chuyển sang cột hai trong bảng động từ bất qui tắc. Nhắc lý thuyết trước như thế thì khi áp dụng làm bài tập, nhìn vào câu thấy có những từ đi kèm như yesterday, last Sunday, three years ago…thì các em dễ dàng chia động từ được ngay. Ex Exercise B 1 / – English Workbook 7 Complete the sentences with the simple present or simple past tense of the verbs b. She …… forget to brush her teeth yesterday. c. Last week the doctor ………… fill a cavity in my eighth tooth. ……………………………………………………………………………… h. Lan ………… have a health examination last month. Dựa vào những từ đã được học yesterday, last …, ….ago,học sinh có thể làm tốt như b. forget->forgot c. fill-> filled ……………………………………………………………………………… h. have-> had Và điều quan trọng khi làm bài tập dạng này là giáo viên bộ môn phải yêu cầu học sinh học thuộc lòng tất cả các động từ bất qui tắc. *Đối với dạng bài tập chuyển câu sang thể phủ định hoặc nghi vấn, giáo viên có thể yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau Bước 1 xác định chủ từ, động từ. Bước 2 xác định thì của động từ. Bước 3 xác định loại động từ động từ thường hay động từ đặc biệt; động từ có qui tắc hay động từ bất qui tắc nếu ở thì quá khứ. Ex Exercise B2/ P. 56 – English Workbook 7 Complete the sentences with the verbs in the negative g. We returned home in the evening. We……………home in the afternoon. S Đây là loại bài tập hoàn thành câu với động từ ở thể phủ định, nói cách khác đây là loại bài tập chuyển câu sang thể phủ định. Muốn làm được bài này, giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau - Xác định động từ returned - Xác định thì của động từ quá khứ đơn S+ V ed / V 2 + O - Xác định loại động từ động từ thường có qui tắc Muốn chuyển câu sang thể phủ định, chúng ta nên mượn trợ động từ vì động từ chính là động từ thường; vì câu chia ở thì quá khứ đơn nên trợ động từ cần mượn là“ did”, câu phủ định phải thêm “not”. Khi mượn trợ động từ thì động từ chính phải trả về nguyên mẫubỏ – ed. Vậy đáp án cho câu này là “ We didn’t return home in the afternoon” * Exercise A3/ p54 – English Workbook 7 Write the questions Ex a/ I went to Vung Tau for last Tet vacation. S V 2 Đây là dạng bài tập chuyển câu sang thể nghi vấn, để giúp học sinh làm được bài này, giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện các bước sau - Xác định chủ từ, động từ I , went - Xác định thì của động từ quá khứ đơn - Xác định loại động từ động từ thường bất qui tắc Với động từ thường ở thì quá khứ đơn, chúng ta mượn trợ “Did”. Vậy để chuyển câu này sang thể nghi vấn, ta thêm “Did” ở đầu câu và “went” trả về nguyên mẫu là “go”. Khi đó, ta có Did you go to Vung Tau for last Tet vacation? * Một dạng bài tập khác đặt câu hỏi với từ gạch dưới Với loại bài tập này, giáo viên cần giúp học sinh thực hiện theo các bước sau - Xác định từ để hỏi cho từ hoặc cụm từ được gạch dươí. - Xác định chủ từ, động từ. - Xác định thì của động từ. - Xác định loại động từ. Ex Exercise A2 / P 69 – English Workbook 7 Write the question for the answer e. I visited the dentist because I had a terrible toothache Để làm được bài tập này, học sinh cần thực hiện các bước sau - Xác định từ để hỏi cho cụm từ được gạch dưới “Why?” - Những bước tiếp theo làm tương tự như chuyển câu sang thể nghi vấn, nhưng khác một điểm nhỏ là chuyển câu sang thể nghi vấn thì ta sẽ viết lại hết nguyên câu, nhưng đặt câu hỏi với từ gạch dưới, ta đặt từ để hỏi ở đầu câu, chuyển câu đó sang thể nghi vấn nhưng phải bỏ đi từ hoặc cụm từ được gạch dươí. Cụ thể là I visited the dentist because I had a terrible toothache S ->Why did you visit the dentist? *Tương tự như đặt câu hỏi với từ gạch dưới, đối với loại bài tập đặt câu hỏi với từ cho sẵn trong ngoặc, giáo viên cần giúp học sinh thực hiện các bước sau - Xác định từ để hỏi dùng để hỏi cho từ hoặc cụm từ nào? cho cái gì? VD What? -> hỏi về vật , sự việc Who ? -> hỏi về người Where? -> hỏi về nơi chốn When? -> hỏi về thời gian Why? -> hỏi về nguyên nhân , lý do và - Xác định chủ từ, động từ. - Xác định thì của động từ. - Xác định loại động từ. Ex Exercise B3/ p. 56 – English Workbook 7 Write the questions with Wh- words b. We decorated our classroom on Saturday evening When? Giáo viên cần hướng dẫn học sinh thực hiện các bước sau - When? dùng để hỏi về thời gian, vậy nó hỏi cho cụm từ “on Saturday evening” đối với học sinh yếu kém, giáo viên cần nói thêm khi ta dùng “When” để hỏi thì cụm từ “ on Saturday evening” sẽ được bỏ đi - Những bước tiếp theo sẽ được làm tương tự như khi chuyển câu sang thể nghi vấn. Vậy đáp án chính xác là “When did you decorate your classroom?” Đối với mỗi loại bài tập được nêu trên , giáo viên nên “ model” làm mẫu cho các em xem một câu, những câu còn lại tương tự, chúng ta có thể yêu cầu học sinh lên bảng làm và giúp đỡ các em nếu thấy còn lúng túng. Cần chỉ cho các em biết cách phân biệt giữa yêu cầu chuyển sang nghi vấn và phủ định nghi vấn thì có từ “Question”, còn thể phủ định có từ “Negative”, đặt câu hỏi với từ gạch dưới hay từ trong ngoặc… Phụ đạo học sinh yếu kém chủ yếu là cho các em làm những dạng bài tập cơ bản. Khi các thao tác đã nhuần nhuyễn, giáo viên bộ môn có thể cho các em làm quen với các dạng đề kiểm tra, đề thi học kỳ để các em có được những kỹ năng làm bài tốt hơn. Mỗi một buổi dạy phụ đạo là một loại hình bài tập khác nhau. Sau 4 tiết phụ đạo sẽ có một bài kiểm tra xem mức độ hiểu bài của các em có tiến triển không? Các em có làm được bài tập đã học chưa? Nhờ biện pháp này mà nhiều năm qua, khi nhìn đề kiểm tra của trường, Phòng giáo dục ra đề, tôi có thể đoán gần chính xác số học sinh trên, dưới trung bình ở các lớp mình đang giảng dạy. c. Ý kiến của các giáo viên bộ môn Anh văn Nguyên nhân học sinh yếu kém bộ môn này do đa số lười học bài, một số có khả năng tiếp thu kém, học sau quên trước do lượng từ vựng rất nhiều. d. Về chỗ ngồi của học sinh, giáo viên bộ môn cần lưu ý Có một thời gian tôi thường xếp học sinh yếu kém ngồi kế bên em học khá giỏi trong lớp, nhưng đã thất bại vì có lắm tình trạng em giỏi học thay cho em yếu kém nhắc bài, cho bạn yếu chép bài làm của mình… Học sinh yếu kém thường chán học, lo ra, nên “ưu tiên” xếp các em ngồi ở những bàn trên, em cao to ngồi bên trong để không che khuất các em nhỏ bên dưới, ngồi gần giáo viên các em có tâm lý lo sợ, không dám xao lãng trong giờ học. e. Sách vở Sách vở rất cần thiết trong việc học ở nhà, chuẩn bị bài tốt cho tiết học tới. Do đó phải thường xuyên kiểm tra sách vở của nhóm yếu kém này. Giáo viên bộ môn nên phân công học sinh giỏi bộ môn cán sự bộ môn có tập vở sạch đẹp, đúng yêu cầu để kiểm tra sách vở, góp ý với bạn và báo cáo cho giáo viên. Kiểm tra và tự kiểm tra lẫn nhau của học sinh làm giảm nhẹ lao động của giáo viên, mà vẫn bảo đảm chính xác. Giáo viên bộ môn chỉ còn nhiệm vụ bao quát và thỉnh thoảng gọi một vài học sinh yếu kém bất kỳ để kiểm tra lại. Phát hiện ngay từ đầu những học sinh không đủ sách vở cần thiết theo yêu cầu bộ môn để buộc các em mua. Đối với những em nghèo, khó khăn, giáo viên có thể mượn sách ở thư viện thay cho các em. f. Kiểm tra Kiểm tra thường xuyên và giúp đỡ cụ thể rất cần thiết cho các em yếu kém, vì những em này với tâm lý chán học, nếu không kiểm tra các em sẽ chẳng chịu học gì cả. Biện pháp Nhờ cán sự bộ môn truy bài vào 15 phút đầu giờ, nếu hôm đó có tiết Anh văn. Giáo viên kiểm tra các em thường xuyên bằng nhiều hình thức miệng, viết, trắc nghiệm. Phát hiện những em lệch lạc, có chuyển biến nên ghi vào sổ theo dõi tình hình học tập bộ môn. Kiểm tra ngắn gọn ngoài giờ học chính thức để khỏi mất thời gian trong tiết học. Gạt bỏ quan niệm chỉ cho điểm kiểm tra theo số cột qui định là đủ. Quan niệm này thường dẫn đến tình trạng học sinh được kiểm tra rồi sẽ ỷ lại, không học bài nữa. Biện pháp kiểm tra thường xuyên phải được làm từ lớp dưới, để phát hiện được chỗ yếu kém của học sinh và kiên trì, bổ sung những lỗ hỏng kiến thức thì các em mới có thể tiếp thu một cách vững vàng kiến thức ở lớp trên. Giáo viên chúng ta thường chú ý đến khâu soạn bài, lên lớp đủ các bước, dạy đúng phân phối chương trình là biểu hiện chỉ tốt ở bước đầu. Vấn đề tổ chức học sinh học tập trong lớp, ở nhà giữ một vai trò quan trọng. Thế nên lấy biện pháp kiểm tra thường xuyên, phát hiện học sinh học bài, làm bài, cải tiến cách học như thế nào có hiệu quả là điều cấp thiết để nâng cao chất lượng học tập của học sinh. g. Dự giờ thao giảng Dự giờ , quan sát , ghi chép , học tập kinh nghiệm của các giáo viên trong tổ để bổ sung những thiếu sót về phương pháp, về quản lý học sinh yếu kém trong tiết học. Qua các lần kiểm tra các sản phẩm của học sinh ,ta thấy không phải lúc nào số lượng yếu kém cũng giảm theo từng thời kỳ lần 2 số yếu kém ít hơn lần 1, lần 3 giảm hơn lần 2… VI. PHẦN KẾT LUẬN Tìm biện pháp “ Nâng cao chất lượng học tập của học sinh yếu kém” là vấn đề tôi nghĩ mọi giáo viên đều quan tâm. Các giáo viên bộ môn Anh văn nói riêng và tất cả giáo viên bộ môn ở trường THCS Trung Giang nói chung cũng đã áp dụng toàn bộ hoặc một số biện pháp tương tự như trên. Nhưng muốn thành công trong việc nâng cao chất lượng học tập của học sinh ở bộ môn mình đồng đều, giáo viên đóng vai trò quyết định, vì thực hiện các biện pháp trên rất mất thời gian, và kéo dài cả năm học, giáo viên phải kiên trì với quyết tâm “Tất cả vì học sinh thân yêu”.Làm được như thế chắc chắn chúng ta sẽ được đền bù xứng đáng từ những “sản phẩm yếu kém” đầu năm của chúng ta đến cuối năm trở nên khá hoàn hảo. Qua đề tài nghiên cứu này, chắc chắn tôi chưa đưa ra được hết các biện pháp nâng cao chất lượng học tập của học sinh, nhất là học sinh yếu mong nhận được sự ủng hộ của lãnh đạo cấp trên , ý kiến đóng góp xây dựng của quý đồng nghiệp để tôi có thể rút kinh nghiệm, học hỏi nhằm nâng cao trình độ chuyên môn của bản thân. TRUNG GIANG NGÀY 15 THÁNG 10 NĂM 2010 . Đổi mới phương pháp dạy học dạy học GV HỒ THỊ MINH SANG Tổ Năng khiếu Năm học 2010- 2011 I. TÊN ĐỀ TÀI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌCC TRONG VIỆC PHỤ ĐẠO HỌC. “Nâng cao chất lượng học sinh yếu kém Cho bộ môn tiếng Anh * Một tiết học Tiếng Anh thật là nặng nề đối với các em . Cùng với sự đổi mới của chương trình - Xem thêm -Xem thêm Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh, Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh,
Trang chủ > Giáo án - Bài giảng > Tiếng anh > Đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng Anh ... động lời nói, đ- ợc dạy và luyện tập gắn liền với việc dạy từ mới, dạy ngữ pháp, dạy nghe và dạy nói. Hệ thống các bài tập và hoạt động dạy học đợc thiết kế theo trình tự dạy học đi từ giới thiệu ... phép học sinh có một thời gian để thích nghi với bài học mới; tạo môi trờng thuận lợi cho bài học mới; gây hứng thú cho bài học mới; giúp học sinh liên hệ những điều đã học với bài học mới; ... vựng, ngữ pháp được thực hiện xen lồng trong quá trình dạy học. Phương pháp Nghe-Nói ngăn cấm việc dùng tiếng mẹ đẻ trong lớp; khuyến khích tối đa dùng tiếng Anh trong quá trình dạy học. Quy... 55 5,637 113 Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Anh ... Đổi mới phương pháp dạy học dạy học GV HỒ THỊ MINH SANG Tổ Năng khiếu Năm học 2010- 2011 I. TÊN ĐỀ TÀI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌCC TRONG VIỆC PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU, KÉM CỦA BỘ MÔN TIẾNG ANH ... chất lượng học sinh yếu kém Cho bộ môn tiếng Anh * Một tiết học Tiếng Anh thật là nặng nề đối với các em . Cùng với sự đổi mới của chương trình và sự thiếu ý thức tự giác, độc lập, Tiếng Anh đến ... trong môn học này. III. CƠ SỞ LÝ LUẬN - Tìm biện pháp “Nâng cao chất lượng học tập của học sinh yếu kém môn tiếng Anh là một vấn đề nan giải, rất cần thiết đối với đa số giáo viên bộ môn nói... 8 3,857 62 Một số biện pháp quản lý công tác đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh ở các trường THPT huyện hương sơn tỉnh hà tĩnh luận văn thạc sỹ ... đổi mới mục tiêu, nội dung dạy học, đổi mới cơ sở vật chất và thiết bị dạy học; Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học để phù hợp giữa dạy học cá nhân và các nhóm nhỏ hoặc cả lớp, giữa dạy học ... tuổi, hứng thú, động cơ Quản lý công tác đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Anh Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học Yêu cầu đổi mới PPDH đã được các tác giả sách quán triệt vào ... theo tình Nội dung quản lý đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Anh THPTQuản lý công tác đổi mới PPDH các bộ môn nói chung và môn Tiếng Anh THPT nói riêng là một trong những nhiệm... 125 1,800 13 Đổi mới phương pháp dạy nghe môn tiếng Anh bậc ... Việc dạy và học nghe môn tiếng Anh tuy không còn mới mẽ nh- ng khó đối với tất cả giáo viên và học sinh bậc THCS. Theo chơng trình, SGK cũ thì tiết dạy nghe không có. Việc dạy nghe môn tiếng Anh ... thuật dạy học phù hợp với một hình thức bài dạy cụ thể dạy ngữ pháp, dạy nói ,dạy viết .... c- Các phơng tiện thiết bị đồ dùng dạy học phục vụ cho việc dạy nghe - Việc sử dụng thiết bị tranh ... tiết dạy nghe môn tiếng Anh vào chơng trình là điều kiện tốt để học sinh có thể phát triển một cách đầy đủ các kỹ năng ngôn ngữ. Song dạy và học nghe Tiếng Anh còn " ;mới "đối với cả học... 28 6,115 34 ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ, THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TRONG NHÀ ... trình dạy và học; là động lực để đổi mới phương pháp dạy học PPDH. Và kiểm tra là phương tiện và hình thức quan trọng, quyết định kết quả đánh giá. Trước nhu cầu bức thiết phải đổi mới PPDH ... việc đổi mới KTĐG của tổ Văn trường THPT Phan Đình Phùng trong thời gian qua, có lẽ chưa thật hoàn chỉnh. Bởi chúng tôi hiểu, đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, trong đó có cả việc đổi mới ... dụng So với các môn khác, Ngữ văn là môn học có nhiều nét đặc thù. Việc cải tiến, đổi mới trong đề thi, kiểm tra sẽ có tác động đáng kể tới phương pháp dạy - học của giáo viên và học sinh. Thời... 10 3,756 46 Sử dụng phương tiện trực quan trong việc đổi mới phương pháp dạy học môn sinh học trường thcs ... trọng hệ thống phương pháp từng bước tiếp cận với phương pháp dạy học hiện đại, quan tâm đổi mới cơ sở vật chất, phương tiện dạy học. Trong đó phương pháp, phương tiện dạy môn Sinh học được coi ... đổi mới. - Trên cơ sở nưhngx quan điểm về đổi mới Phương pháp dạy học và thực trạng Phương pháp dạy học nói chung, môn sinh học nói riêng cùng với phương tiện trực quan định hướng đổi mới. Phương ... thay đổi Phương pháp dạy học nói chung, Phương pháp dạy học sinh học nói riêng và cơ sở vật chất đảm bảo, thực hiện tốt các phương pháp đáp ứng yêu cầu mục tiêu đào tạo. 6 2. Định hướng đổi... 22 3,290 11 ĐỔI MỚI KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ, THÚC ĐẨY ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MÔN NGỮ VĂN TRONG NHÀ TRƯỜNG THPT ... trình dạy và học; là động lực để đổi mới phương pháp dạy học PPDH. Và kiểm tra là phương tiện và hình thức quan trọng, quyết định kết quả đánh giá. Trước nhu cầu bức thiết phải đổi mới PPDH ... việc đổi mới KTĐG của tổ Văn trường THPT Phan Đình Phùng trong thời gian qua, có lẽ chưa thật hoàn chỉnh. Bởi chúng tôi hiểu, đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn, trong đó có cả việc đổi mới ... dụng So với các môn khác, Ngữ văn là môn học có nhiều nét đặc thù. Việc cải tiến, đổi mới trong đề thi, kiểm tra sẽ có tác động đáng kể tới phương pháp dạy - học của giáo viên và học sinh. Thời... 10 1,852 15 Đổi mới phương pháp dạy học môn đia lý ... ,từ việc đổi mới cách soạn giáo án ,tổ chức dạy học ,đổi mới việc sử dụng các phơng pháp dạy học đến việc đổi mới công tác kiểm tra , đánh giá kết quả học tập của học sinh . a. Đổi mới trong công ... thế việc áp dụng đổi mới phơng pháp đạy học môn địa Lí là hết sức quan trọng , Bởi lẽ có đổi mới phơng pháp dạy học môn địa lí thì các em mới có điều kiện tốt nhất đợc trao đổi đợc chia sẻ những ... SKKN Đổi mới phơng pháp dạy học môn địa lý ở trờng THCS 8A 18% 63% 19% 8B 3% 68% 29% Qua kết quả này tôi nghỉ rằng việc đổi mới phơng pháp giảng dạy môn Địa lí nói riêng và các môn học khá... 19 3,532 71 Xem thêm
Giáo viên chia học sinh thành từng cặp để em học giỏi kèm em học yếu nhằm giúp bạn nâng cao trình độ ảnh minh họa. Ảnh Đối với môn tiếng Anh, thay vì sau khi dạy xong vài bài thì giáo viên GV mới ôn tập cho học sinh HS kiểm tra một tiết, hoặc sau khi dạy xong một số bài nhất định nào đó mới tổ chức ôn tập để HS kiểm tra học kỳ… Đổi lại, GV nên giúp HS ôn tập ngay sau khi dạy xong một đơn vị bài học. Theo đó, khi thầy cô đã nắm trong tay danh sách các điểm ngữ pháp cần thiết nhất để giúp HS ôn tập thì phải bắt tay vào làm việc này trước. GV sẽ đánh máy toàn bộ các dạng bài tập được trích ra trong sách bài tập sẽ cho HS sử dụng tại lớp theo từng chủ điểm ngữ pháp. Để thực hiện được điều này, GV cần1. Lên kế hoạch cụ thểSau khi đã thống kê các dạng bài tập thuộc các điểm ngữ pháp cần phải ôn tập cho HS, GV sẽ yêu cầu các em chia cuốn tập ra từng phần riêng biệt theo từng điểm ngữ pháp đã chọn. Ví dụ 10 trang dành cho phần các thì và các dạng của động từ; 8 trang dành cho phần câu bị động; 5 trang dành cho phần giới từ… Khi dạy xong một đơn vị bài học, đã cho HS làm bài tập đầy đủ và đã giải đáp cẩn thận các yêu cầu của bài tập, GV sẽ yêu cầu các em về nhà liệt kê hết những loại bài tập có liên quan đến những điểm ngữ pháp chính. Để giúp cho HS không bị nhàm chán và không có cảm giác nặng nề thầy cô nên tổ chức cho các em hoạt động theo cặp. Một cặp HS cùng làm việc với nhau thì nên có trình độ khác nhau; GV nên động viên các bạn khá giỏi cần phải có tinh thần giúp đỡ bạn và thuyết phục các em để các em nhận ra rằng đây là một cơ hội tốt để tự nâng cao trình độ của mình khi nhận ra được lỗi sai của bạn. GV sẽ cho hai HS trong cùng một cặp trao đổi vở cho nhau; lần lượt thay phiên nhau đọc lên từng câu một để cùng kiểm tra xem bạn mình đã viết lại các câu ấy chính xác chưa. Lưu ý một điều là khi em nào phát hiện chỗ sai của bạn thì nên dùng bút đỏ sửa ngay lỗi sai đó. Trong khi HS làm công việc này, GV sẽ đi quanh lớp học để đảm bảo tính nghiêm túc của công việc. Bên cạnh đó GV sẽ đưa ra sự trợ giúp cần thiết nếu được các em yêu Phần ôn tập của HSGV yêu cầu HS về nhà ôn tập những điểm ngữ pháp nhất định nào đó theo qui định của bài kiểm tra. Lên lớp GV phát tài liệu cho HS làm để kiểm tra xem các em đã nắm kỹ bài chưa! Sau khi các em làm xong GV sẽ cho HS chấm chéo bài của nhau, vì đây là những bài tập HS đã từng làm rồi. Trong quá trình sửa bài GV nên yêu cầu HS dùng bút đỏ làm nổi bật lên những chỗ sai để các bạn sẽ chú ý tập trung và học kỹ những phần đó giúp HS thống kê những điểm ngữ pháp theo từng đơn vị bài học sẽ giúp các em nhìn lại toàn bộ kiến thức đã học, đã làm để qua đó các em có thể xem lại điểm ngữ pháp nào còn chưa vững nhằm kịp thời điều chỉnh ngay trước khi qua bài mới. Ngoài ra việc làm đi làm lại những dạng bài tập đã từng làm sẽ giúp cho các em nắm vững và nhớ lâu những kiến thức đã học. Nhờ đó sẽ cảm thấy tự tin khi làm bài kiểm tra. Biện pháp này còn giúp HS tự tích lũy cho bản thân một số vốn kiến thức căn bản cần thiết về ngữ pháp tiếng Anh. Ngoài ra trong mỗi một lớp học đều có những thành phần HS chậm hiểu hoặc HS lười biếng khiến cho tiến trình thực hiện công việc chắc chắn sẽ gặp không ít cản trở. Đối với những HS chậm hiểu thì khi phân cặp GV phải phân cho những HS đó làm việc cùng với những HS vừa giỏi, vừa cẩn thận, và phải thật sự tế nhị để không chạm tự ái và lòng tự trọng của bạn. GV cũng cần duy trì chặt chẽ việc cho HS cùng nhau đọc ra thành tiếng những bài tập mà các em đã sửa cho nhau; vì khi đọc lên như thế sẽ giúp cho kiến thức phản hồi ngược lại trong tâm trí HS như thế sẽ giúp các em nhớ lâu hơn phần kiến thức đã Thị Thúy Hằng GV Trường THCS Độc Lập, Phú Nhuận
Trước thông tin môn Tiếng Anh được tính hệ số bằng với hai môn Toán và Ngữ văn trong kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT công lập năm nay, chị Nguyễn Thị Hà, phường Hiệp Bình Chánh, TP Thủ Đức TP Hồ Chí Minh cho biết Hiện nay, phần lớn cha mẹ học sinh cho con tiếp cận tiếng Anh ngay từ khi học tiểu học cho nên khả năng tiếng Anh của trẻ rất tốt. Bên cạnh đó, tiếng Anh là ngoại ngữ phổ biến và quan trọng, nhất là khi nước ta ngày càng hội nhập sâu, rộng như hiện nay. Vì vậy, việc điều chỉnh hệ số môn Tiếng Anh bằng với các môn khác là hợp lý. Theo các chuyên gia giáo dục, trước đây, môn Tiếng Anh tính hệ số 1, Toán và Ngữ văn tính hệ số 2 cho nên nhiều học sinh có tâm lý tập trung vào hai môn Toán và Ngữ văn để kéo điểm môn Tiếng Anh. Với cách thay đổi về mặt hệ số, học sinh không còn tư tưởng môn chính, môn phụ mà phải tập trung học đều cả ba môn. Thầy giáo Nguyễn Xuân Đắc, Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Gia Thiều, quận Tân Bình cho biết Ngay từ đầu năm học, nhà trường đã lên kế hoạch bồi dưỡng môn Tiếng Anh cho học sinh. Hiện nay, giáo viên chỉ tập trung giảng dạy cho học sinh tiếp thu tốt môn học này. Đây là môn học được cha mẹ học sinh rất quan tâm, ngoài học ở trường, họ còn đầu tư cho con học ở các trung tâm ngoại ngữ để nâng cao khả năng giao tiếp. Theo Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo GD và ĐT TP Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Hiếu, dạy và học ngoại ngữ ngày càng có vị trí quan trọng trong giáo dục phổ thông. TP Hồ Chí Minh có nhiều đề án, chính sách phát triển môn học này để hướng đến mục tiêu học sinh đạt trình độ chuẩn quốc tế sau khi tốt nghiệp THPT, đủ điều kiện tiếp cận chương trình giáo dục các nước. Dù hệ số môn Tiếng Anh năm nay được điều chỉnh nhưng nội dung, cấu trúc đề thi vẫn nằm trong chương trình THCS, chủ yếu ở lớp 9. Hiện nay, thành phố đang triển khai nhiều chương trình học ngoại ngữ nhằm tạo môi trường học tập tốt nhất cho học sinh, qua đó góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố. Để từng bước nâng chất lượng dạy và học tiếng Anh, cách đây 20 năm, Sở GD và ĐT thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai, thực hiện chương trình tiếng Anh tăng cường. Với chương trình này, học sinh được học tiếng Anh ngay từ lớp 1 và đây là tiền đề quan trọng để thành phố triển khai cho hầu hết học sinh lớp 1 được học tiếng Anh ngay trong trường tiểu học thời điểm hiện nay. Cùng với đó, thành phố luôn đi đầu, chủ động đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng đào tạo dạy và học tiếng Anh ở các cấp học đạt hiệu quả, chất lượng. Điển hình, từ năm học 2014 - 2015, thành phố triển khai thí điểm Chương trình “Dạy và học các môn Toán, Khoa học, Tiếng Anh tích hợp chương trình Anh và Việt Nam” Chương trình tích hợp. Qua chương trình này, giúp học sinh tiếp cận với các chuẩn quốc tế bậc học phổ thông. Sau khi hoàn thành Chương trình tích hợp, học sinh có thể thi lấy chứng chỉ quốc tế của hội đồng khảo thí lớn nhất Anh quốc, hoặc hội đồng khảo thí uy tín của Hoa Kỳ. Trong ba năm gần đây, với việc đầu tư và đổi mới trong dạy và học môn Tiếng Anh, TP Hồ Chí Minh luôn có điểm trung bình môn học này ở kỳ thi tốt nghiệp THPT cao nhất cả nước. Đây là cơ sở để tin tưởng rằng đến năm 2030, thành phố sẽ thực hiện thành công mục tiêu ít nhất có 20% học sinh tốt nghiệp THPT với tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2; có ít nhất 20% số trường THPT giao tiếp bằng song ngữ Anh - Việt trong các hoạt động giáo dục, nhất là các hoạt động tập thể, ngoại khóa và hoạt động trải nghiệm sáng tạo; 10% giáo viêndưới 30 tuổi có thể giảng dạy được các môn bằng song ngữ Anh - Việt.
đổi mới phương pháp dạy học môn tiếng anh